Trung tâm tư vấn pháp luật đính chính và xin lỗi

Trung tâm tư vấn pháp luật Viện Đại học Mở Hà Nội đính chính và xin lỗi về việc đăng tải bài báo "Luật sư thua kiện...thân chủ"

 

Đòi quan tòa cam kết ‘xử khách quan’

Nguyên đơn yêu cầu thay đổi cả năm người tiến hành tố tụng với lý do họ chưa ký vào bản cam kết mà ông đưa ra là sẽ xét xử vô tư.

 

Lại tuyên án một đằng, ra án một nẻo

Người dân tố cáo bản án mà chủ tọa tuyên đọc tại phiên tòa không ghi nhận ý kiến luật sư, quan điểm của tòa… nhưng trong bản án phát hành lại có đầy đủ.

 

Cần sớm phát triển án lệ

Muốn phát triển án lệ thì phải sửa luật để quyết định giám đốc thẩm được sửa án chứ không chỉ hủy án và y án như hiện nay.

 

Kiện đòi bán quách… bức tường

Hai nhà tranh chấp bức tường chung, sau đó một bên đồng ý mua bức tường nhưng giữa chừng thì “lật kèo”, bên kia bèn kiện ra tòa buộc bên này phải mua.

 

Nhận tội thay, sau đó được tuyên trắng án

Chẳng những không xử hình sự bị cáo về hành vi khai báo gian dối được mà còn phải bồi thường oan cho anh ta.

 

Làm oan, phải chủ động xin lỗi dân

Theo quy định cũ, cơ quan làm oan phải chủ động xin lỗi người bị oan và cải chính công khai, còn bồi thường tính sau nhưng quy định hiện hành trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) thì ngược lại.

 

Khi “cán bộ đỏ” và “xã hội đen” thành liên minh ma quỉ

Thông tin về việc ông Lê Trung Kiên, Phó trưởng ban Tổ chức Quận uỷ Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị Công an bắt giữ do có liên quan đến việc thuê “xã hội đen” giết người trên đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội đang gây xôn xao dư luận. Vụ việc gây ồn ào, không chỉ về mức độ dã man, nghiêm trọng của những kẻ sát nhân, ở địa điểm không xa trụ sở Bộ Công an mà ở chỗ một cán bộ có chức sắc trong cơ quan nhà nước lại có thể tham gia vào một tội ác nghiêm trọng như vậy

 

Thi công chức ở Bộ Công Thương, con cháu lãnh đạo trúng tuyển

Liên quan vụ gian lận thi công chức tại Cục Quản lý thị trường (QLTT), Bộ Công Thương, sau nhiều ngày xác minh, phát hiện những thí sinh trúng tuyển có con, cháu của lãnh đạo ngành Công Thương.

 

Chuyện buồn ở khu phố “lấy chồng ngoại”

Đó là những cuộc hôn nhân không tình yêu, rủi ro như canh bạc, được đong đếm bằng những thứ không phải tình yêu.

 

Cho vay hay cho mượn?

Đòi nợ tiền, vàng không cần tính lãi suất, tòa xác định là tranh chấp hợp đồng mượn tài sản, VKS lại cho rằng đó là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo quy định, phân biệt giữa cho vay và cho mượn ra sao?

 

Phạm tội liên tiếp, nên nhập vụ án

Các cơ quan tố tụng tỉnh Bình Dương chỉ xử lý vụ phạm tội ban đầu xảy ra trên đất Bình Dương, “làm lơ” một chuỗi hành vi phạm tội liên tiếp ngay sau đó của bị cáo trên đất Bình Phước. Theo cấp phúc thẩm, xử lý như thế là chưa đúng.

 

“Nữ quái” 21 tuổi cầm đầu băng trộm 5 ngày chôm 14 xe máy

(PLO)- Ngày 6-8, TAND TP.HCM xét xử sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tạ Tuyết Trinh 9 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Do trước đó Trinh bị kết án 6 tháng tù treo, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên tổng hình phạt chung mà bị cáo phải nhận là 9 năm 6 tháng tù.

 

Vụ ăn mì trúng 100 triệu: Khách hàng nhận được 50 triệu đồng

Trước vụ tranh cãi ăn mì được thẻ trúng thưởng 100 triệu đồng nhưng không được nhận, Sở Công thương tỉnh Bình Dương đã đứng ra giải quyết. Theo đó, phía công ty mì gói chấp nhận trả 50 triệu đồng cho người trúng thưởng.

 

Hội nghị Tổng kết năm học 2013 – 2014 và Đổi mới công tác quản lý – nâng cao chất lượng đào tạo

Từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 7 năm 2014, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tổ chức"Hội nghị tổng kết năm học 2013 – 2014 và đổi mới công tác quản lí – nâng cao chất lượng đào tạo" tại Quảng Bình. Tham dự hội nghị có đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo các trung tâm giáo dục thường xuyên của các tỉnh thành, các trường cao đẳng, đại học có liên kết đào tạo với Viện Đại học Mở Hà Nội, các cơ quan thông tấn, báo chí cùng 352 cán bộ cơ hữu của Viện.

 

Giao con chung cho ai nuôi tốt nhất?

Ly hôn, ngoài vấn đề chia tài sản thì cha hay mẹ nuôi con cũng là “cuộc chiến” căng thẳng. Không phải trường hợp nào pháp luật cũng điều chỉnh nên thẩm phán phải quan sát, đánh giá rất kỹ trước khi quyết định.

 

TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁT LUẬT VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG DỊCH VỤ TỐT NHẤT - HOTLINE: 0989 008 647

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Đăng lúc: Thứ tư - 25/06/2014 04:56 - Người đăng bài viết: TTTVPL
HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Với vai trò là luật chung, Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005) được coi là cơ sở pháp lí quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chuyên ngành khi luật chuyên ngành không quy định.
Xuất phát từ cách đánh giá vai trò của BLDS 2005 trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành, nhiều quy định của BLDS 2005 được coi là căn cứ pháp lí để giải quyết các vấn đề pháp lí phát sinh, trong đó có các quy định liên quan đến hợp đồng. Có thể thấy rằng các quy định trong BLDS 2005 về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự được coi là căn cứ pháp lí để xác định hiệu lực cũng như để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, trong đó có hợp đồng trong thương mại được điều chỉnh bởi Luật Thương mại và một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Qua việc tìm hiểu các quy định của BLDS 2005 về hợp đồng vô hiệu, chúng tôi thấy rằng nhiều quy định trong BLDS 2005 về vấn đề này cần phải được nhận diện một cách chính xác để có những thay đổi cho phù hợp với tình hình hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh sửa đổi BLDS 2005 và xác định rõ mối quan hệ giữa BLDS với các luật chuyên ngành, trong đó có Luật Thương mại.
1. Căn cứ xác định và hậu quả pháp lí của hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của BLDS 2005
Về nguyên tắc, hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực pháp lí khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định, nếu hợp đồng vi phạm một trong các điều kiện này thì vô hiệu. BLDS 2005 không quy định cụ thể điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, tuy nhiên hợp đồng dân sự được biết đến là một loại giao dịch dân sự[1], do đó điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự. Vậy, theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005 thì hợp đồng dân sự phải thỏa mãn các điều kiện sau đây mới phát sinh hiệu lực pháp lí:
(i) Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng:  Người tham gia có năng lực hành vi dân sự. Với việc quy định về các loại chủ thể trong BLDS 2005, chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng rất đa dạng, trong một số trường hợp nhất định thì chủ thể phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định[2];
(ii) Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
(iii) Điều kiện về sự tự nguyện: Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện.
  Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nếu pháp luật có quy định hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (Khoản 2, Điều 122 BLDS 2005). Ngoài ra, BLDS 2005 quy định: Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác[3].
          Trên cơ sở quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, BLDS 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu với các trường hợp cụ thể, quy định về hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu, thời hạn tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu cũng như bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu (các quy định từ Điều 127 đến Điều 138 BLDS 2005). Các quy định này cũng được áp dụng cho hợp đồng dân sự vô hiệu[4].
Khi hợp đồng vô hiệu, hậu quả pháp lí (có thể một trong các bên hoặc cả hai bên mong muốn hoặc không mong muốn) được xác định cụ thể như sau:
* Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng: Thời điểm xác lập hợp đồng không đồng nghĩa với thời điểm hợp đồng bị tuyên bố là vô hiệu, do đó khi hợp đồng vô hiệu, quyền và nghĩa vụ của các bên không phát sinh kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập. Điều này có thể hiểu là các bên không có sự ràng buộc về mặt pháp lí, không có sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ.
* Khi hợp đồng vô hiệu, việc thực hiện hợp đồng giữa các bên sẽ bị chấm dứt, các bên tham gia hợp đồng khôi phục lại tình trạng ban đầu: Hợp đồng có thể vô hiệu tuyệt đối hoặc tương đối, có thể vô hiệu một phần hoặc toàn bộ. Tuy nhiên, nếu hợp đồng vô hiệu thì các quyền và nghĩa vụ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng sẽ không còn giá trị vì nó vi phạm điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Giả sử các bên đã xác lập hợp đồng nhưng chưa thực hiện hợp đồng trên thực tế thì không được tiếp tục thực hiện.
* Hợp đồng vô hiệu, các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận:
Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, việc hoàn trả trước tiên được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên, nếu các bên không thỏa thuận được thì tiến hành hoàn trả bằng hiện vật hoặc bằng tiền nếu không hoàn trả được bằng hiện vật. Như vậy trong một số trường hợp thì các bên không nhất thiết phải hoàn trả lại cho nhau những gì các bên đã nhận từ bên còn lại nếu các bên có thỏa thuận. Pháp luật một số nước: Anh, Xcốtlen và Ailen quy định khi không thể hoàn trả được bằng hiện vật, quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng không còn nữa. Tuy nhiên theo pháp luật của các nước châu Âu lục địa, trong trường hợp như vậy, hợp đồng vẫn có thể bị tuyên bố vô hiệu và việc hoàn trả được thanh toán bằng giá trị tương đương. Quy định không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền là giải pháp được thừa nhận trong một số Bộ quy tắc về hợp đồng của Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng "Nếu việc hoàn trả bằng hiện vật không thể thực hiện được thì hoàn trả bằng một khoản tiền hợp lí" và "những gì không thể hoàn trả được bằng vật chất thì phải được hoàn lại bằng giá trị"[5].
Trên thực tế, không phải lúc nào nghĩa vụ hoàn trả cũng có thể thực hiện được vì việc hoàn trả sẽ tác động tới lợi ích của chủ thể nhận đối tượng được chuyển giao trong hợp đồng. Rõ ràng lợi ích là điều mà các bên chủ thể hướng tới, tuy lợi ích của mỗi người là khác nhau nhưng lợi ích này xuất phát từ việc chuyển giao đối tượng của hợp đồng. Khi hoàn trả cho nhau những gì đã nhận tức là mỗi bên phải từ bỏ lợi ích mà mình đã hướng tới hoặc mong muốn có khi thỏa thuận xác lập hợp đồng.
* Hợp đồng vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận với nội dung bao hàm cả việc hoàn trả tình trạng của vật, đối tượng của hợp đồng. Khôi phục lại tình trạng ban đầu trong khoa học pháp lí là việc bên chủ thể giao kết hợp đồng trước khi chuyển giao những gì đã nhận thì phải tìm cách trả lại nguyên trạng ban đầu cho đối tượng được chuyển giao. Theo một cách khác, có thể cho rằng khôi phục lại tình trạng ban đầu nghĩa là các bên hoàn trả lại các quyền và lợi ích ban đầu trước khi các bên giao kết thực hiện hợp đồng. Việc khôi phục lại tình trạng ban đầu đảm bảo được giá trị của đối tượng cho chủ thể sở hữu đối tượng trước khi chuyển giao, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu. Ngoài ra, đây còn là căn cứ xác định giá trị bồi hoàn tương ứng khi không khôi phục, hoàn trả lại được trạng thái ban đầu.
* Bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu: Trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hải xảy ra không liên quan đến thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thì trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng. Khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, theo khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 thì "bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường". Do đó, thiệt hại trong trường hợp này phải được xác định là thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng mặc dù thực tế các bên chủ thể trong hợp đồng có tồn tại với nhau một quan hệ hợp đồng nhưng hợp đồng không phát sinh quyền, nghĩa vụ khi hợp đồng vô hiệu. Xem xét bồi thường khi hợp đồng vô hiệu phải đánh giá đúng thiệt hại xảy ra và mức độ lỗi gây ra thiệt hại của các bên. Hợp đồng vô hiệu có thể chỉ do lỗi của một bên mà cũng có thể do lỗi của hai bên, do đó Tòa án phải xác định mức độ lỗi của từng bên trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: nếu mỗi bên đều có lỗi tương đương nhau thì mỗi bên phải chịu 1/2 giá trị thiệt hại; nếu mức độ lỗi của họ không tương đương nhau thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên.
* Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng vô hiệu: Người thứ ba có liên quan đến hợp đồng vô hiệu có thể là: (i) một trong các chủ thể giao kết và người thứ ba cùng là chủ sở hữu tài sản, tức là quyền và nghĩa vụ mỗi bên đối với tài sản là như nhau hoặc tính theo tỷ lệ nhất định; (ii) tài sản là đối tượng của hợp đồng do một trong các bên chủ thể chiếm hữu, được lợi về tài sản; (iii) nội dung của hợp đồng liên quan đến quyền và lợi ích của người thứ ba; (iv) quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng vô hiệu.
Người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu chỉ xác lập quyền, lợi ích và được pháp luật bảo vệ đối với tài sản là động sản khi có đủ các điều kiện sau: (i) Không phải là động sản phải đăng kí quyền sở hữu và; (ii) Có được tài sản thông qua hợp đồng không đền bù với người có quyền định đoạt tài sản; hoặc (iii) Có được tài sản thông qua hợp đồng có đền bù nhưng tài sản không phải là tài sản bị lấy cắp, bị mất, không bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ thể[6].
2. Một số bất cập xung quanh quy định của BLDS 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu và hướng hoàn thiện
Về cơ bản, BLDS 2005 và các luật chuyên ngành đã đáp ứng được yêu cầu trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay với xu thế đa dạng của các loại hình doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh được phát huy một cách tối đa thì các quy định về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu phải đảm bảo được sự thông thoáng nhất định trong việc điều chỉnh hoạt động của các chủ thể. Qua việc nghiên cứu các quy định của BLDS cũng như các luật chuyên ngành, chúng tôi cho rằng cần thiết phải có sự rà soát, đối chiếu các quy định của pháp luật về hợp đồng một cách chặt chẽ để đảm bảo sự hợp lí trong các quy định của pháp luật nhưng cũng không làm mất đi tính tự chủ của các chủ thể, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh.
2.1. Quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS 2005
BLDS 2005 được biết đến với tư cách là luật chung, các luật khác như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở… là các luật chuyên ngành. Phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 rất rộng, theo đó: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lí, chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)” (Điều 1, BLDS 2005). Mặc dù phạm vi điều chỉnh được xác định như vậy nhưng cách tiếp cận của BLDS 2005 về hợp đồng lại bó hẹp trong phạm vi “hợp đồng dân sự”. Trên thực tế, nguyên tắc áp dụng luật và mối quan hệ giữa luật chung với luật chuyên ngành được xác định rõ, theo đó nếu luật chuyên ngành không quy định thì sẽ áp dụng quy định của luật chung. Ví dụ: Luật Thương mại 2005 không quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, do đó khi vận dụng quy định của pháp luật để xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, xác định hợp đồng vô hiệu, hậu quả pháp lí của hợp đồng vô hiệu sẽ được viện dẫn tới BLDS. Điều 121 BLDS 2005 khi quy định về giao dịch dân sự đã tiếp cận giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương. Tuy vậy BLDS 2005 đã tự kéo dài khoảng cách và tạo ra sự ngăn cách đối với các luật chuyên ngành khác ở ngay trong chính các quy định của BLDS. Mục 7, chương XVII BLDS 2005 quy định về “Hợp đồng dân sự” và tất cả các nội dung trong phần này đều được tiếp cận với khái niệm “hợp đồng dân sự” – ngay cả khái niệm hợp đồng cũng được tiếp cận dưới góc độ như vậy[7]. Nhiều doanh nhân khi tiếp cận hợp đồng cũng cho rằng quy định trong BLDS về hợp đồng là hợp đồng dân sự chứ không thể áp dụng cho các hợp đồng khác. Do đó, chúng tôi cho rằng BLDS sửa đổi tới đây cần có hướng tiếp cận mới, theo đó không nên tiếp cận dưới góc độ “hợp đồng dân sự” mà nên tiếp cận dưới góc độ hợp đồng nói chung. Trên cơ sở đó, các quy định về hợp đồng trong BLDS sẽ được dẫn chiếu cho toàn bộ các hợp đồng khác được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành[8].
2.2. Quy định về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng
Năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia giao kết hợp đồng bao gồm năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, năng lực hành vi dân sự. Việc xác định quyền, nghĩa vụ của mỗi cá nhân lệ thuộc vào kết quả đánh giá năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân đó. Khả năng được thực hiện quyền hay không và thực hiện quyền đó đến đâu đều do năng lực của cá nhân đó quyết định. Mặt khác, hợp đồng "là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" nên chủ thể hợp đồng không chỉ là cá nhân mà còn có sự tham gia của chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
Quy định của BLDS về các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân, các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến năng lực hành vi dân sự… tương đối phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh chủ thể là cá nhân, đối với các chủ thể khác khi tham gia quan hệ hợp đồng cũng còn tồn tại nhiều bất cập. Chẳng hạn đối với pháp nhân kinh doanh: năng lực chủ thể của những pháp nhân này được xác định như thế nào? Xét trên phương diện lí luận, năng lực chủ thể được xác định bởi hai yếu tố: (i) năng lực pháp luật và; (ii) năng lực hành vi. Khi quy định về pháp nhân, BLDS chỉ quy định về năng lực pháp luật của pháp nhân[9] mà không quy định về năng lực hành vi của pháp nhân – đây chính là sự khó hiểu và chính sự khó hiểu này dẫn tới sự thiếu thống nhất trong việc xử lí những tính huống cụ thể. Bên cạnh đó, năng lực chủ thể của pháp nhân được xác định khi nào: khi có quyết định thành lập hay khi đăng kí kinh doanh? Mặt khác, quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, BLDS xác định: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” (Điều 122 BLDS 2005). Như vậy, phải chăng điều kiện “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” không được áp dụng đối với pháp nhân? (vì BLDS 2005 không quy định về năng lực hành vi dân sự của pháp nhân). Xin đơn cử một tình huống cụ thể: Một pháp nhân kinh doanh tham gia kí kết một hợp đồng kinh doanh, dịch vụ với một pháp nhân khác, nội dung của hợp đồng này không hề có trong đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp nhưng không thuộc trường hợp ngành nghề pháp luật cấm kinh doanh. Như vậy, có hai cách hiểu trong trường hợp này:
(i) Pháp luật quy định quyền tự do kinh doanh, do đó trên tinh thần những ngành nghề mà pháp luật không cấm thì chủ thể hoàn toàn có quyền tự do kinh doanh;
(ii) Doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động đối với những ngành nghề được xác định trong đăng kí kinh doanh. Nếu ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm nhưng không đăng kí kinh doanh thì không được phép hoạt động.
Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì với những trường hợp doanh nghiệp kí kết hợp đồng mặc dù không bị pháp luật cấm nhưng hoạt động đó không được ghi trong đăng kí kinh doanh thì vô hiệu. Tuy nhiên, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã không còn hiệu lực nữa, mặt khác BLDS 2005 chỉ xác định hợp đồng vô hiệu tuyệt đối nếu mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội…
Chúng tôi cho rằng để giải quyết vướng mắc trên đây cần quy định rõ về năng lực chủ thể của pháp nhân theo hai tiêu chí (i) năng lực pháp luật và; (ii) năng lực hành vi. Ngoài ra, nên quy định rõ năng lực hành vi của pháp nhân có từ thời điểm pháp nhân đăng kí kinh doanh, có như vậy mới giải quyết được vấn đề liên quan đến điều kiện về chủ thể của giao dịch dân sự là “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”.
2.3. Quy định về hợp đồng vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể khi tham gia hợp đồng
Theo quy định của BLDS 2005, hợp đồng được coi là không có sự tự nguyện của chủ thể tham gia trong các trường hợp: nhầm lẫn, giả tạo, lừa dối, đe dọa, vào thời điểm xác lập hợp đồng mà người xác lập không nhận thức và không làm chủ được hành vi.
* Đối với trường hợp nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng:
BLDS 2005 chỉ ra nguyên nhân dẫn tới sự nhầm lẫn bằng cách đưa yếu tố "lỗi" làm cơ sở xác định trường hợp nhầm lẫn, nhưng lại chưa đề cập đến khả năng lỗi của tất các bên tức là các bên cùng có lỗi dẫn tới sự nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng. Điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra trên thực tế trong các quan hệ hợp đồng. Chúng tôi cho rằng nên thay đổi cụm từ "Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn…" thành "Khi một hoặc hai bên nhầm lẫn về…".Điều này phù hợp và có tính bao quát cả vấn đề lỗi vô ý hoặc lỗi từ hai phía chủ thể. Hoặc là bổ sung lỗi từ cả hai phía vào điều luật và đoạn 1 Điều 131 BLDS năm 2005 sửa thành "Khi một bên có lỗi vô ý hoặc cả hai bên cùng có lỗi làm cho bên kia nhầm lẫn thì…" sẽ cho thấy rõ ràng và bao quát được tất cả các trường hợp khi áp dụng pháp luật.
Ngoài ra, BLDS 2005 chỉ đề cập nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng, không đề cập nhầm lẫn về chủ thể của hợp đồng. Điều này dẫn tới khi phát sinh nhầm lẫn chủ thể trong hợp đồng khó mà có chế tài thỏa đáng để giải quyết. Do đó khi sửa đổi BLDS nên xem xét đến việc sửa đổi về quy định nhầm lẫn làm cho HĐDS vô hiệu liên quan đến chủ thể, có thể theo hướng khi nhầm lẫn về chủ thể thì hợp đồng sẽ vô hiệu. Bởi vì mục đích hướng tới trong giao dịch là lợi ích chủ thể sẽ được thỏa mãn như thế nào, hơn nữa yếu tố thỏa thuận và tự nguyện là hai yếu tố cơ bản cấu thành nên nội dung của hợp đồng. Chấp thuận hay không chấp thuận giao kết hợp đồng đều do chủ thể giao kết quyết định. Cho nên có thể nói chủ thể hợp đồng là vấn đề tiên quyết quyết định nội dung hợp đồng, bản chất hợp đồng và lợi ích mỗi chủ thể trong hợp đồng, do đó khi nhầm lẫn về chủ thể hợp đồng sẽ dẫn tới hợp đồng vô hiệu.
* Đối với trường hợp bị đe dọa khi giao kết hợp đồng: Điều 132 BLDS 2005 quy định hành vi cố ý đe dọa hay nói cách khác là hệ quả của hành vi cố ý đe dọa là bên bị đe dọa buộc phải "thực hiện giao dịch". Hậu quả của sự đe dọa là làm cho một bên tham gia hợp đồng bị tê liệt ý chí nên buộc phải giao kết hợp đồng. Đe dọa là trường hợp tác động về tinh thần, vậy với các trường hợp tác động về thể chất thì có vô hiệu không? (đánh đập, trực tiếp xâm hại đến thân thể…) do đó chúng tôi cho rằng bên cạnh trường hợp đe dọa cần bổ sung thêm hợp đồng có thể bị vô hiệu do bị cưỡng bức.
Mặt khác, việc liệt kê các đối tượng bị đe dọa để dẫn tới hậu quả giao kết hợp đồng cũng không hợp lí. Chúng tôi cho rằng nên quy định đối tượng bị đe dọa ngoài người trực tiếp tham gia hợp đồng còn có thể là “người thân thích khác”. Do đó, đoạn 3 Điều 132 BLDS 2005 nên sửa như sau:
“...Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích khác”.
2.4. Về hình thức của hợp đồng
Khoản 2, Điều 122 BLDS 2005 quy định:
“Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Thực tế, hiểu và vận dụng quy định này cũng như các quy định khác trong BLDS 2005 cũng còn nhiều bất cập. Chẳng hạn, đoạn 2 khoản 2 Điều 401 BLDS 2005 ghi nhận: "Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" là một quy định phù hợp với bản chất các quan hệ PLDS của chủ thể khi xác lập hợp đồng. Tuy nhiên, việc quy định hình thức hợp đồng là yếu tố dẫn tới hợp đồng vô hiệu còn có những mặt hạn chế nhất định. Theo đó nhiều nhà nghiên cứu luật đưa ra những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này, nhất là khái niệm "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác", chẳng hạn:
Có quan điểm cho rằng quy định tại điều 122, khoản 2 Điều 124, Điều 127 BLDS năm 2005 là những quy định chung, mang tính nguyên tắc, không nhất thiết hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức là vô hiệu;
Quan điểm khác phủ nhận quan điểm trên đây vì khi pháp luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu.
Một quan điểm dung hòa hai quan điểm trên, theo đó trong một số trường hợp nhất định hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm về hình thức hoặc không bị coi vô hiệu do vi phạm hình thức.
Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo sự phù hợp của quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 401 với quy định khác của BLDS 2005 như quy định tại Điều 122, Điều 124, Điều 134 thì thiết nghĩ các nhà làm luật nêu điều chỉnh theo hướng dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí để ghi nhận vấn đề này. Có thể là "hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức trừ trường hợp quy định tại Điều 134 Bộ luật này".
            Sự ràng buộc của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng được thể hiện ở sự tự do ý chí, tự thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ. Về nguyên tắc, pháp luật không can thiệp vào sự thỏa thuận này trừ khi sự thỏa thuận đo vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực khác của hợp đồng. Các quy định của BLDS 2005 và các luật chuyên ngành về cơ bản đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng, tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế nhất định cần phải sửa đổi, bổ sung. Hoàn thiện quy định của BLDS về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu là hết sức cần thiết vì không thể có một môi trường kinh doanh tốt nếu không có môi trường pháp lí tốt để điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các chủ thể./.


[1] Điều 121 BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
[2] Ví dụ, Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể về thương nhân, thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam
[3] Điều 405 BLDS 2005
[4]Khoản 1, Điều 410 BLDS 2005.
[5] Unidroit (2005), Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, (Bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ), Nxb Tư pháp, Hà Nội – Điều 4:115; 3:17
[6]Xem các quy định tại Điều 256, 257, 258 BLDS 2005.
[7]Điều 388. Khái niệm hợp đồng dân sự
[7]Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
[8] Đồng quan điểm này, GS.TS Nguyễn Thị Mơ (Trọng tài viên VIAC) trong bài tham luận với tiêu đề “Quy định của BLDS 2005 về hợp đồng - Những bất cập đặt ra từ thực tiễn giao kết hợp đồng của doanh nghiệp và giải pháp sửa đổi” tại hội thảo do VCCI tổ chức ngày 01/3/2013 cho rằng: “việc đưa 2 chữ DÂN SỰ vào khái niệm hợp đồng tại Điều 388 và gọi đó là khái niệm HỢP ĐỒNG DÂN SỰ trong thực tế đã không chỉ làm vô hiệu hóa giá trị của những quy định tại Điều 4 Luật Thương mại 2005 và phá vỡ tính thống nhất, tính liên kết chặt chẽ giữa các quy định về hợp đồng trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như làm giảm vai trò của chế định HỢP ĐỒNG trong BLDS  mà còn gây khó khăn và lúng túng cho các doanh nghiệp khi họ muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật nói chung và của BLDS nói riêng để tiến hành việc giao kết và thực hiện các hợp đồng đầu tư, sản xuất hay kinh doanh thương mại của mình.
[8]            Giải pháp sửa đổi là: Bỏ hai từ dân sự tại tiêu đề của Điều 388, sau hai từ hợp đồng và sau hai từ nghĩa vụ trong định nghĩa này, đồng thời bổ sung 3 từ đối với nhau vào sau hai từ nghĩa vụ để thay thế hai cho từ dân sự. Nghĩa là, Điều 388 chỉ nêu khái niệm về hợp đồng và sẽ được sửa lại như sau: Điều 388. Khái niệm hợp đồng.“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau”.
[9]Điều 86 BLDS 2005 quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân như sau:
[9]1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
[9]2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.
[9]3. Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Nhung (Khoa Luật, Viện Đại học Mở Hà Nội)
Nguồn tin: Tạp chí khoa học Viện Đại học Mở Hà Nội (số 2/tháng 1/2014)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Trung tâm Tư vấn Pháp luật

Trung tâm tư vấn pháp luật Viện Đại học Mở Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 242/QĐ-ĐHM-TC của Viện trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội ký ngày 08/08/2012 và Giấy đăng ký hoạt động số 14/TP/ĐKHĐ-TT của Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội cấp ngày 22/08/2012. Các lĩnh vực hoạt động chính của Trung...