Một số câu hỏi về pháp luật Dân Sự (phần 1)

Một số câu hỏi về pháp luật Dân Sự (phần 1)
Pháp luật Dân sự luôn là lĩnh vực mà Trung tâm tư vấn pháp luật Viện Đại Học Mở nhận được nhiều câu hỏi thắc mắc, các vụ việc cần giải quyết nhất. Để giúp cho khách hàng và mọi người dân cùng hiểu biết một số vấn đề cơ bản thường gặp trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi đã tổng hợp lại một số câu hỏi phổ biến nhất đó. Tuy nhiên quý khách hàng cần lưu ý rằng, các câu trả lời là cụ thể với vụ việc đó, nên chỉ mang tính tham khảo khi áp dụng vào sự việc mà bạn cần thông tin và giải quyết. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để có những dịch vụ uy tín và chính xác nhất: Địa chỉ: phòng B2.5, nhà B101, Nguyễn Hiền, Hai Bà Trương, Hà Nội Điện thoại: 0438684859 - hotline: 0989008647
1. Lập di chúc

Gia đình tôi có 6 người con: 2 trai và 4 gái, các con đã lập gia đình và có nhà cửa đất đai. Nay tôi muốn lập di chúc cho người con trai thứ thì cách lập di chúc hợp pháp như thế nào?

TRẢ LỜI

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
Khi lập di chúc, bác có thể lựa chọn một trong các hình thức sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Người làm chứng cho việc lập di chúc có thể bất kỳ người nào, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự);
- Di chúc bằng văn bản có công chứng;
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Trong di chúc, bác cần thể hiện rõ các nội dung nêu tại Điều 653 Bộ luật Dân sự, cụ thể như sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản;
- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

2. Mua nhà nhưng một trong các chủ sở hữu đã mất và một trong các thừa kế đang có nghĩa vụ tài sản với nhiều người

Em dự định mua một căn nhà nhưng có vấn đề như sau: Nhà đã được cấp giấy chứng nhận mang tên bố và mẹ, nay người mẹ đã mất. Họ có 2 người con nhưng một trong hai người con đang nợ nần bên ngoài rất nhiều. Hiện tại hai người con đều ủy quyền cho bố để bán tài sản. Vậy tài sản đó có được sang tên theo đúng quy định pháp luật hay không? Và những chủ nợ có quyền kiện đòi nợ hay không?

TRẢ LỜI:

Khi bạn mua nhà thì bạn cần chú ý các điều kiện để sang tên quyền sở hữu ngôi nhà theo đúng quy định của pháp luật. Điều 91 Luật Nhà ở quy định các điều kiện để nhà ở tham gia các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở như sau:
- Có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật;
- Không có tranh chấp về quyền sở hữu;
- Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối chiếu với trường hợp cụ thể mà bạn nêu, có thể thấy hai vấn đề như sau:
* Điều kiện về có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngôi nhà được cơ quan có thẩm quyền cấp cho bố và mẹ nên khi người mẹ chết, phần quyền sở hữu nhà của người mẹ trở thành di sản thừa kế. Do đó, một mình người bố sẽ không có toàn quyền thực hiện thủ tục việc mua bán toàn bộ ngôi nhà mà những người thừa kế của người mẹ phải thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật trước khi bán ngôi nhà đó.
Nếu người mẹ không để lại di chúc thì di sản được chia theo pháp luật cho những người thừa kế theo Điều 676 Bộ luật Dân sự (hàng thừa kế thứ nhất gồm: hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết). Theo đó, người bố và hai người con là những đồng thừa kế theo pháp luật của người mẹ và có quyền thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để khai nhận di sản thừa kế đối với phần quyền sở hữu của người mẹ. Sau khi khai nhận di sản thừa kế thì ngôi nhà trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của người bố (vốn là đồng chủ sở hữu với người mẹ) và người được hưởng di sản (có thể là cả ba bố con). Những chủ sở hữu mới của ngôi nhà sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với ngôi nhà đó và có quyền thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình theo quy định tại Điều 21 Luật Nhà ở, bao gồm: Bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý, thế chấp nhà ở thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật.
* Điều kiện về không có tranh chấp.
Vấn đề mà bạn đang lo ngại nhất là việc các chủ nợ của người con sẽ khởi kiện về việc sang tên quyền sở hữu đối với ngôi nhà mà người con là một trong các đồng thừa kế. Trước hết, cần phải làm rõ nghĩa vụ của người con đối với các chủ nợ: Theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự thì người con có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay đã giao kết, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các chủ nợ đó. Trên thực tế thì việc mua bán ngôi nhà giữa bạn và chủ sở hữu không chịu ảnh hưởng bởi nghĩa vụ trả nợ của người con đối với các chủ nợ (ví dụ: người con sau khi nhận di sản thừa kế có thể bán cho bạn để lấy tiền trả nợ...). Tuy nhiên, những chủ nợ sẽ có quyền khởi kiện yêu cầu người con phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với mình đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét đến giao dịch mua bán ngôi nhà đó nếu xảy ra các trường hợp sau:
(i) Nếu trước khi khai nhận di sản thừa kế, người con đó đã từ chối nhận di sản thừa kế mà người đó lẽ ra được hưởng từ người mẹ, nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Việc từ chối của người con không được pháp luật cho phép (Điều 642 Bộ luật Dân sự) và người con đó phải nhận di sản mà mình được hưởng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình.
(ii) Hoặc, trường hợp trong Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thừa kế, người con đó nhận phần di sản mà mình được hưởng, nhưng đồng thời tặng chotoàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác (bố hoặc anh/em của mình) nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ thì việc tặng cho này bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự.
Trong các trường hợp trên, tòa án có quyền tuyên bố các giao dịch mà người con đã thực hiện nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản với các chủ nợ. Như vậy thì việc mua bán ngôi nhà của bạn cũng sẽ gặp những trở ngại nhất định.
Chủ thể ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản hộ gia đình

3. Theo quy định của pháp luật khi hộ gia đình vay Ngân hàng thì những thành viên trong gia đình từ độ tuổi bao nhiêu sẽ có quyền ký hợp đồng vay nợ Ngân hàng và hợp đồng thế chấp tài sản. 
 
TRẢ LỜI: 
Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định được coi là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự. Theo quy định tại Ðiều 107 Bộ luật Dân sự thì đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ là chủ hộ (Chủ hộ có thể là cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên trong gia đình). Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.  Theo quy định này thì khi hộ gia đình vay vốn Ngân hàng thì chủ hộ (với tư cách là người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình) hoặc người được chủ hộ ủy quyền có quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng vay vốn với ngân hàng. Khi đó, tất cả các thành viên trong hộ gia đình có phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình đã xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình.
Về việc thế chấp tài sản của hộ gia đình: Điều 109 Bộ luật Dân sự quy định các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thỏa thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý. Như vậy, khi hộ gia đình thế chấp tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn (như quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận mang tên hộ gia đình...) để đảm bảo nghĩa vụ dân sự tại Ngân hàng thì các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên có quyền lập và ký kết hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế, khi các bên (Ngân hàng và chủ thể hộ gia đình) yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp tài sản tại tổ chức công chứng thì các tổ chức công chứng không những yêu cầu những thành viên trên mười lăm tuổi của hộ gia đình ký vào hợp đồng mà còn yêu cầu phải có sự tham gia của người đại diện cho những thành viên dưới mười lăm tuổi. Đây là biện pháp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các thành viên của hộ gia đình trong việc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình.

4.Cho dì vay tài sản nhưng không chịu trả

Dì tôi vay tôi 10 triệu bằng cách mượn 1 đàn organ đi cầm cố, trong vòng 10 ngày nếu không lấy được tôi sẽ mất đàn. Nhưng đến nay đã mấy tháng mà dì tôi vẫn không trả được tiền hoặc đàn cho tôi mặc dù đã hẹn trả. Đến nay dì tôi vẫn tiếp tục đi vay tiền để tiêu, không chịu có phương án giải quyết nợ nần với tôi. Vậy tôi có thể kiện dì tôi về tội chiếm đoạt tài sản không?

TRẢ LỜI:
 
Thực chất giữa bạn và dì bạn đã giao kết hợp đồng vay tài sản, theo đó bạn giao tài sản cho dì bạn; khi đến hạn trả, dì phải hoàn trả cho bạn tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tài sản vay là cây đàn organ nên khi đến hạn, dì bạn phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; trong trường hợp dì bạn không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bạn đồng ý (theo Điều 474 Bộ luật Dân sự).
Vì hợp đồng vay tài sản giữa bạn và dì là hợp đồng vay không kỳ hạn (khi cho vay, hai bên không thỏa thuận cụ thể về thời hạn vay) nên bạn có quyền đòi nợ dì bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thỏa thuận khác. Thực tế thì dì bạn đã hẹn sẽ trả nợ cho bạn nhưng lại không thực hiện, do đó đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bạn. Nếu dì bạn cố tình không trả nợ, cũng như không có sự thỏa thuận với bạn thì bạn có quyền khởi kiện tại tòa án để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài ra, nếu có căn cứ thì bạn có thể tố cáo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự: Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Đối chiếu với những thông tin bạn cung cấp: Giữa dì bạn và bạn đã giao kết hợp đồng vay tiền; số tiền mà bạn có thể bị chiếm đoạt là 10 triệu đồng; dì bạn có hành vi lẩn tránh, hứa hẹn giả tạo nhằm mục đích không trả nợ cho bạn… Vậy, bạn có thể căn cứ vào quy định của pháp luật cũng như tình hình thực tế để giải quyết vấn đề của mình.   

5.Đánh người gây thương tích thì chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại như thế nào?

 

Do mâu thuẫn nên bạn tôi đã đánh nhau và đánh 1 người bị thương ở tay, xác định mức thương tật  là 35%. Bạn tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không, phải bồi thường bao nhiêu (Người bị đánh có mức thu nhập hàng tháng là 2,5 triệu đồng)?
TRẢ LỜI:

Hành vi của người bạn của bạn có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 104 Bộ luật Hình sự. Cụ thể, người bạn đó đã gây thương tích cho một người mà tỷ lệ thương tật là 35% nên đã vi phạm khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%… thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Khi xác định được đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bạn của bạn. Việc áp dụng hình phạt sẽ do cơ quan tố tụng xem xét, quyết định. Bên cạnh việc có thể phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật thì bạn của bạn còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường được quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NĐ-CP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

6. Khởi kiện người vay tiền sử dụng vào mục đích bất hợp pháp

Nếu một người vay tôi 400 triệu để sử dụng vào mục đích kinh doanh (đã thỏa thuận trên hợp đồng vay tiền) nhưng sau đó dùng một phần tiền vay vào mục đích khác (đánh bài) và đến hạn không trả. Tôi có quyền kiện người đó không?

TRẢ LỜI:

Trước hết, khi giao kết hợp đồng vay tiền với bạn, người vay có nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự. Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nếu bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên với tư cách là bên có quyền (theo Điều 302 Bộ luật Dân sự). Khi người vay cố tình không trả lại bạn số tiền đã vay, nếu không thể tự thương lượng, thỏa thuận được thì bạn có quyền gửi đơn đến tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, hành vi của người vay tiền của bạn còn có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật Hình sự. Quy định cụ thể như sau:Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hành vi của người vay tiền có dấu hiệu tại điểm b nêu trên, người đó đã sử dụng tiền vay vào mục đích không đúng với thỏa thuận của các bên và bất hợp pháp (cờ bạc) dẫn đến không có khả năng trả nợ. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người vay tiền còn có thêm tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự (Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng). Do vậy, bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của người vay tiền khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.


Tác giả bài viết: Cẩm Sơn

Nguồn tin: Trung tâm tư vấn pháp luật Viện Đại học Mở Hà Nội